Câu hỏi: Đình công khác với lãng công như thế nào? người sử dụng lao động có được áp dụng biện pháp xử lý vi phạm kỷ luật đối những người lao động tham gia đình công trong thời gian đình công hay sau thời gian đình công không? Các thiệt hại mà người sử dụng lao động phải chịu do đình công bất hợp pháp gây ra thì ai sẽ gánh chịu và việc bồi thường sẽ được thực hiện như thế nào? Các thiệt hại gián tiếp ví dụ như mất đơn hàng, bị khách hàng đòi bồi thường hợp đồng có được xem là thiệt hại của doanh nghiệp do đình công bất hợp pháp không?

Trả lời:

1.Đình công khác với lãng công như thế nào?

2. Doanh nghiệp có được áp dụng biện pháp xử lý vi phạm kỷ luật đối những nhân viên tham gia đình công trong thời gian đình công hay sau thời gian đình công không?

Người sử dụng lao động không được phép chấm dứt HĐLĐ hoặc xử lý KLLĐ đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công[1]. Như vậy, trong thời gian trước, trong và sau khi đình công, người sử dụng lao động sẽ không được phép xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động tham gia đình công.

Tuy nhiên, trong trường hợp cuộc đình công được Tòa án có thẩm quyền quyết định là bất hợp pháp mà người lao động không ngừng đình công, không trở lại làm việc, thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật lao động theo Nội quy lao động của doanh nghiệp và quy định có liên quan của pháp luật về lao động[2].

3. Các thiệt hại mà người sử dụng lao động phải chịu do đình công bất hợp pháp gây ra thì ai sẽ gánh chịu và việc bồi thường sẽ được thực hiện như thế nào?

Trong trường hợp cuộc đình công được tòa án tuyên là bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho người sử dụng lao động thì tổ chức công đoàn lãnh đạo đình công phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật[3]. Theo đó, người sử dụng lao động có văn bản yêu cầu tổ chức công đoàn lãnh đạo cuộc đình công bất hợp pháp bồi thường thiệt hại. Căn cứ vào nội dung văn bản yêu cầu bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động, đại diện tổ chức công đoàn trực tiếp lãnh đạo đình công có trách nhiệm thực hiện bồi thường thiệt hại theo quy định[4]. Trường hợp tổ chức công đoàn lãnh đạo đình công không đồng ý với một trong các nội dung chủ yếu trong văn bản yêu cầu bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động, các bên sẽ thực hiện tuần tự theo các bước sau[5]:

  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động, tổ chức công đoàn lãnh đạo đình công có văn bản yêu cầu người sử dụng lao động tổ chức thương lượng;
  • Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu thương lượng, người sử dụng lao động trao đổi, thống nhất với đại diện tổ chức công đoàn lãnh đạo đình công về thời gian, địa điểm, thành phần tham gia phiên họp thương lượng bồi thường thiệt hại.
    Phiên họp thương lượng bồi thường thiệt hại phải được lập biên bản, có chữ ký của các bên tham gia thương lượng và của người ghi biên bản, trong đó phải có những nội dung đã được hai bên thống nhất (nếu có), những nội dung còn ý kiến khác nhau. Biên bản phiên họp thương lượng là cơ sở pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường thiệt hại; và
  • Kết thúc thương lượng, trường hợp hai bên thống nhất nội dung thương lượng thì hai bên có trách nhiệm thực hiện theo nội dung đã đạt được thỏa thuận; trường hợp không thống nhất nội dung thương lượng thì một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Các thiệt hại gián tiếp ví dụ như mất đơn hàng, bị khách hàng đòi bồi thường hợp đồng có được xem là thiệt hại của doanh nghiệp do đình công bất hợp pháp không?

Liên quan đến giá trị thiệt hại do cuộc đình công bất hợp pháp gây ra, người sử dụng lao động có thể xác định và yêu cầu bồi thường bao gồm các thiệt hại sau[6]:

  • Thiệt hại về máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hư hỏng sau khi trừ đi giá trị thu hồi do thanh lý, tái chế (nếu có); và
  • Chi phí khắc phục hậu quả do đình công bất hợp pháp gây ra gồm: Vận hành máy móc thiết bị theo yêu cầu công nghệ; sửa chữa, thay thế máy móc, thiết bị bị hư hỏng; tái chế nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm bị hư hỏng; bảo quản nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm trong thời gian diễn ra đình công; vệ sinh môi trường; bồi thường khách hàng hoặc phạt vi phạm hợp đồng do đình công xảy ra.

Căn cứ các thiệt hại theo quy định nêu trên, thì các thiệt hại gián tiếp (chi phí khắc phục hậu quả) như bồi thường hợp đồng cho khách hang cũng được xem là một trong các thiệt hại do đình công bất hợp pháp. Tuy nhiên, để có thể yêu cầu bồi thường các thiệt hại nói chung (trực tiếp hoặc gián tiếp) từ tổ chức công đoàn lãnh đạo đình công bất hợp pháp trên thực tế, người sử dụng lao động cần có những tài liệu và chứng cứ chứng minh cụ thể cho các thiệt hại đó. Các chứng cứ này cũng sẽ là cơ sở để Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu bồi thường của người sử dụng lao động trong trường hợp người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn lãnh đạo đình công không đạt được một thỏa thuận về bồi thường.


[1] Điều 219.4 Bộ luật Lao động

[2] Điều 233.1 Bộ luật Lao động

[3] Điều 233 Bộ luật Lao động

[4] Điều 36.2 và 36.3 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015

[5] Điều 7 Thông tư 29/2015/TT-BLĐTBXH ngày 31/7/2015

[6] Điều 36.1 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015