Câu hỏi: Thời gian bắt đầu trên HĐLĐ với NLĐ nước ngoài có phải ghi chính xác với ngày bắt đầu trên giấy phép lao động được cấp không?

Trả lời:

Theo quy định pháp luật, thời hạn của giấy phép lao động được cấp theo thời hạn của HĐLĐ dự kiến sẽ ký kết, nhưng không quá 02 năm[1]. Về nguyên tắc, thời hạn của giấy phép lao động sẽ được cấp tương tự với thời gian làm việc dự kiến của NLĐ nêu trong văn bản đề nghị cấp giấy phép lao động. Các bên có nghĩa vụ giao kết HĐLĐ theo các nội dung tại giấy phép lao động đã được cấp. Trong trường hợp nội dung của HĐLĐ (bao gồm nội dung về thời hạn) không đúng với nội dung của giấy phép lao động, giấy phép lao động sẽ hết hiệu lực.

Về trình tự cấp giấy phép lao động[2], trước ít nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày NLĐ nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc cho NSDLĐ thì NSDLĐ đó phải nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động cho SLĐTBXH nơi NLĐ nước ngoài dự kiến làm việc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động, SLĐTBXH cấp giấy phép lao động cho NLĐ nước ngoài. Trường hợp không cấp giấy phép lao động thì có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Sau khi NLĐ nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì NSDLĐ và NLĐ nước ngoài phải ký kết HĐLĐ bằng văn bản trước ngày dự kiến làm việc cho NSDLĐ. Như vậy, theo quy trình trên có thể thấy giấy phép lao động sẽ được SLĐTBXH cấp trước ngày NLĐ dự kiến làm việc cho NSDLĐ và các bên cũng sẽ phải ký HĐLĐ trước ngày đó.

Trên thực tiễn, khi xin cấp giấy phép lao động, thời điểm bắt đầu của thời hạn giấy phép lao động được ghi nhận tại Mục 9 của mẫu giấy phép lao động thường sẽ được các cơ quan quản lý lao động cộng thêm 15 ngày sau ngày cấp giấy phép lao động đó.


[1] Điều 11.1 Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016, được sửa đổi và bổ sung bởi Nghị định 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018

[2] Điều 12 của Nghị định 11/2016/NĐ-CP, được sửa đổi và bổ sung bởi Nghị định 140/2018/NĐ-CP