Câu hỏi 20. Khi cần tạm hoãn HĐLĐ do NLĐ phải thực hiện nghĩa vụ quân sự thì thời gian tạm hoãn có được tính vào thời hạn của HĐLĐ không?

Trả lời:

1. Các trường hợp tạm hoãn HĐLĐ

BLLĐ cho phép NSDLĐ và NLĐ có thể tạm hoãn thực hiện HĐLĐ trong các trường hợp sau đây[1]:

  • NLĐ đi làm nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ;
  • NLĐ bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của Luật Tố tụng hình sự;
  • NLĐ phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;
  • NLĐ nữ mang thai;
  • NLĐ được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
  • NLĐ được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
  • NLĐ được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác; và
  • Các trường hợp khác do các bên tự thoả thuận.

Sau khi hết thời hạn tạm hoãn HĐLĐ, NLĐ phải có mặt tại nơi làm việc và NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác[2].

2. Thời gian tạm hoãn HĐLĐ có được tính vào thời hạn của HĐLĐ hay không?

Theo điều 31 BLLĐ, trong vòng 15 ngày kể từ ngày hết hạn tạm hoãn thực hiện HĐLĐ, NLĐ phải có mặt tại nơi làm việc để tiếp tục thực hiện công việc theo HĐLĐ đã giao kết nếu HĐLĐ còn thời hạn. Như vậy có thể hiểu rằng, nếu tại vào thời điểm đó mà thời hạn của HĐLĐ xác định thời hạn đã hết thì HĐLĐ sẽ chấm dứt trừ trường hợp các bên đồng ý gia hạn thời hạn của HĐLĐ thêm một khoảng thời gian nữa. Xin lưu ý rằng trường hợp này sẽ không xảy ra đối với HĐLĐ không xác định thời hạn vì tính chất vô hạn của nó.


[1] Điều 30 BLLĐ

[2] Điều 31 BLLĐ