Câu hỏi: Trong trường hợp NLĐ đã sử dụng hết hạn mức 30 ngày được hưởng chế độ ốm đau mà vẫn tiếp tục xin nghỉ bệnh và có cung cấp đầy đủ giấy nghỉ bệnh hưởng BHXH (bệnh của NLĐ không thuộc danh mục bệnh dài ngày) hợp lệ theo quy định của pháp luật thì NSDLĐ có quyền từ chối duyệt cho NLĐ này nghỉ bệnh không?

Trả lời:

NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường, hội đủ điều kiện được hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật lao động[1] và bệnh của NLĐ không thuộc danh mục các loại bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì thời gian tối đa trong một năm mà NLĐ được hưởng chế độ ốm đau là:

  • 30 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm;
  • 40 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; hoặc
  • 60 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 30 năm trở lên.

Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau trong một năm được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hằng tuần theo quy định của pháp luật lao động. Thời gian này được tính kể từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 của năm dương lịch, không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia BHXH của NLĐ.

Mặt khác, NLĐ nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì NLĐ và NSDLĐ không phải đóng BHXH tháng đó và thời gian này không được tính để hưởng BHXH[2].

NSDLĐ có quyền không giải quyết chế độ ốm đau đối với các trường hợp sau đây:

  • NLĐ bị ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy;
  • NLĐ nghỉ việc điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; và
  • NLĐ bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động; nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH.

Để được hưởng chế độ ốm đau theo quy định của Luật BHXH, NLĐ cần chuẩn bị hồ sơ bao gồm các giấy tờ chứng minh việc khám, chữa bệnh, điều trị nội trú, ngoại trú[3]… Nếu đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau và đáp ứng đầy đủ hồ sơ hưởng chế độ ốm đau, cơ quan BHXH sẽ giải quyết và chi trả trợ cấp ốm đau cho NLĐ theo quy định.

Trường hợp NLĐ đã sử dụng hết hạn mức 30 ngày nghỉ bệnh nhưng vẫn tiếp tục xin nghỉ bệnh mà vẫn cung cấp đầy đủ giấy nghỉ bệnh hưởng BHXH thì pháp luật lao động không có quy định nào cho phép NSDLĐ được quyền từ chối không cho NLĐ nghỉ phép này. Tuy nhiên, có một số điều luật quy định trong Bộ luật Lao động liên quan như sau: (i) Điều 111 quy định về quyền nghỉ hàng năm có hưởng lương của NLĐ; (ii) Điều 32.5 cho phép NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận tạm hoãn việc thực hiện HĐLĐ (có thể không hưởng lương); hoặc (iii) Điều 116.3 cho phép NLĐ thỏa thuận với NSDLĐ về việc nghỉ không hưởng lương.

Theo các quy định này, nếu NLĐ vẫn còn ngày nghỉ hàng năm có hưởng lương chưa sử dụng và xin nghỉ hằng năm theo Điều 111 của Bộ luật Lao động và NQLĐ của NSDLĐ (nếu có), thì  NSDLĐ có thể phải phê duyệt cho NLĐ đơn xin nghỉ hằng năm (có hưởng lương) để NLĐ tiếp tục nghỉ việc để điều trị bệnh. Hoặc khác, NLĐ có thể xin và thỏa thuận về việc: (i) nghỉ không lương; hoặc (ii) tạm hoãn thực hiện HĐLĐ và NSDLĐ, trong trường hợp này, không còn cách nào khác, là phải đồng ý để NLĐ nghỉ việc để tiếp tục điều trị bệnh.

Ngoài ra, NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ trong trường hợp NLĐ bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục đối với NLĐ làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn; đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với NLĐ làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn và quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm việc theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục[4].


[1] Điều 25 Luật BHXH và Điều 3 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015

[2] Điều 6.4 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015

[3] Điều 8 Quyết định 636/QĐ-BHXH ngày 22/04/2016

[4] Điều 38.1(b) Bộ luật Lao động