Quy định của pháp luật lao động về việc chấm dứt HĐLĐ với NLĐ cao tuổi như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 36.4 Bộ luật Lao động, HĐLĐ sẽ đương nhiên chấm dứt khi thỏa mãn cả hai điều kiện sau: (1) NLĐ có đủ thời gian đóng BHXH; và (2) NLĐ đến tuổi hưởng lương hưu. Trong đó, thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu trong điều kiện lao động bình thường được xác định là 20 năm[1] và tuổi được hưởng lương hưu sẽ được xác định là 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ[2].

Theo pháp luật lao động, NLĐ tiếp tục lao động sau độ tuổi hưởng lương hưu: 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ thì NLĐ đó sẽ được xem xét là NLĐ cao tuổi; và HĐLĐ giữa Công ty và NLĐ trong tình huống này cũng được coi là HĐLĐ với NLĐ cao tuổi[3]. Có nghĩa là mới thỏa mãn một điều kiện chấm dứt HĐLĐ số (2) nêu trên, như vậy, sẽ có 02 trường hợp xảy ra như sau:

  1. Trường hợp 1: NLĐ không có đủ thời gian đóng BHXH

Trong trường hợp này, NLĐ chỉ thỏa mãn duy nhất một điều kiện về tuổi hưởng lương hưu, còn thời gian đóng BHXH làm căn cứ tính lương hưu là ít hơn so với quy định của pháp luật. Do vậy, NSDLĐ cũng không thể đương nhiên chấm dứt HĐLĐ với NLĐ theo trường hợp được quy định tại Điều 36.4 Bộ luật Lao động như đã đề cập ở trên. HĐLĐ giữa NSDLĐ và NLĐ vẫn tiếp tục có hiệu lực đối với các bên theo quy định của pháp luật.

Theo đó, quan hệ lao động với NLĐ cao tuổi ngoài việc phải thỏa mãn các điều kiện chung như thường lệ còn phải thỏa mãn các điều kiện riêng biệt khác mà pháp luật lao động quy định, bao gồm:

  • Khi NSDLĐ có nhu cầu và NLĐ cao tuổi có đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật thì các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn HĐLĐ hoặc giao kết HĐLĐ mới[4]. Như vậy, trong trường hợp các bên đã thỏa mãn các điều kiện pháp luật quy định, NSDLĐ phải duy trì HĐLĐ hiện tại và có trách nhiệm đóng các loại bảo hiểm cho NLĐ cao tuổi như bình thường.

Ngoài ra, NSDLĐ cũng cần đảm bảo cho NLĐ được hưởng các điều kiện đặc biệt dành riêng đối với NLĐ cao tuổi theo quy định của pháp luật ví dụ như thời gian làm việc được rút ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường, không được sử dụng NLĐ cao tuổi làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm…

  • Ngược lại, khi NSDLĐ không có nhu cầu hoặc NLĐ cao tuổi không có đủ sức khỏe thì luật yêu cầu hai bên phải “thỏa thuận” để chấm dứt HĐLĐ[5]. Theo đó, có thể hiểu hai bên sẽ phải ký thoả thuận chấm dứt HĐLĐ như trường hợp chấm dứt được quy định tại Điều 36.3 Bộ luật Lao động.

Việc giải quyết chế độ BHXH đối với NLĐ đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ thời gian đóng BHXH sẽ thực hiện theo một trong hai cách sau: (i) NLĐ có yêu cầu và hưởng BHXH một lần[6]; hoặc (ii) NLĐ tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện, đóng cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu[7].

  • Trường hợp 2: NLĐ có đủ thời gian đóng BHXH

Trong trường hợp này, HĐLĐ giữa NSDLĐ và NLĐ cao tuổi sẽ đương nhiên chấm dứt theo quy định tại Điều 36.4 Bộ luật Lao động. Theo đó, NSDLĐ có các nghĩa vụ sau:

  • Thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của NLĐ trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ[8]; và
  • NSDLĐ hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại số BHXH và những tờ khác mà NSDLĐ đang giữ của NLĐ[9].

Ngoài ra, đối với trường hợp chấm dứt HĐLĐ do NLĐ đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu thì NSDLĐ không có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ[10].


[1] Điều 54.1 Luật BHXH

[2] Điều 187.1 Bộ luật Lao động

[3] Điều 166.1, Điều 187.1 của Bộ luật Lao động và Điều 6 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015

[4] Điều 6.1 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015

[5] Điều 6.2 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018

[6] Điều 60.1.(a) Luật BHXH

[7] Điều 73.2 Luật BHXH

[8] Điều 47.2 Bộ luật Lao động

[9] Điều 47.3 Bộ luật Lao động

[10] Điều 14.1 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015